Mất trí nhớ là một hội chứng bệnh lý về não ngày càng phổ biến hiện nay, nó gây ảnh hưởng nhiều đến chức năng cao cấp của vỏ não như suy giảm trí nhớ, tư duy, định hướng, nhận biết ngôn ngữ, phán đoán các năng lực học tập, xã hội nhưng ý thức bệnh nhân không bị rối loạn. Những  suy giảm này thường tiến triển theo thời gian và khó hồi phục, gây suy sụp đáng kể chức năng trí tuệ cũng như các vận động trong sinh hoạt hàng ngày.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thống kê , hiện trên thế giới có khoảng 35,6 triệu người mắc chứng mất trí nhớ, trong đó chủ yếu là các nước có thu nhập thấp và trung bình. Con số này dự kiến sẽ tăng gấp đôi lên 65,7 triệu người vào năm 2030 và tăng hơn gấp 3 lần lên 115,4 triệu người vào năm 2050.

hoi-chung-benh-mat-tri-nho-medihome

Bệnh mất trí nhớ này diễn biến ngày càng xấu đi, tuy nhiên vấn đề này nhìn chung vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tính tới thời điểm hiện tại chỉ có 1/8 số nước trên thế giới có chương trình quốc gia nhằm giải quyết căn bệnh này. Do đó để giảm gánh nặng của căn bệnh này, WHO đã kêu gọi các nước trên thế giới phải nâng cao khả năng phát hiện sớm, cung cấp những chăm sóc y tế và xã hội cần thiết về chứng mất trí nhớ.

Bệnh mất trí nhớ có nhiều dạng khác nhau,nó được phân loại tùy theo những dấu hiệu, triệu chứng và hậu quả của căn bệnh tác động đến người bệnh, trong đó có mất trí nhớ tạm thời, mất trí nhớ sau sinh (hơn 90% phụ nữ sau sinh mắc bệnh lý này), mất trí nhớ người già,..

Mất trí nhớ tạm thời hay còn gọi là mất trí nhớ ngắn hạn, nó là  một cơn mất trí nhớ tạm thời, đột ngột mà không do một tình trạng thần kinh phổ biến nào gây ra, như bệnh động kinh hoặc đột quỵ. Trong cơn mất trí nhớ tạm thời này bệnh nhân không thể nhớ lại các sự kiện vừa mới diễn ra, không thể nhớ mình đang ở đâu hoặc đã đến đó bằng cách nào.

Nguyên nhân bệnh Mất trí nhớ

Nguyên nhân mất trí nhớ chủ yếu do:

  • Bệnh Alzheimer
  • Đột quỵ nhiều lần ( ” mất trí nhớ do mạch máu não”)
  • Rượu
  • Chấn thương đầu
  • Các khối u não
  • Hydrocephalus (nước trên não)
  • Bệnh Parkinson (nhưng không phải tất cả các bệnh Parkinson đều đưa đến mất trí)
  • Nhiễm trùng như viêm màng não, AIDS và một số loại vi-rút
  • Thiếu Vitamin (đặc biệt là vitamin B12)
  • Xáo trộn nội tiết như một under-gland tuyến giáp đang hoạt động

Trong đó 2 nguyên nhân quan trọng gây nên bệnh mất trí nhớ hiện nay là Bệnh Alzheimer và Đột quỵ nhiều lần (” mất trí nhớ do mạch máu não”).

Triệu chứng bệnh Mất trí nhớ

Triệu chứng mất trí nhớ bao gồm:

  • Suy giảm trí nhớ: Triệu chứng này thường xuất hiện sớm, đặc trưng và nổi bật. Suy giảm trí nhớ có thể xuất hiện cấp trong chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não và thường xuất hiện từ từ nhưng có khả năng tiến triển ngày càng nặng trong các bệnh lý thoái triển khác.
  • Suy giảm các khả năng hoạt động nhận thức khác: thường biểu hiện với bệnh lý vong ngôn, vong tri, vong hành và suy giảm một số năng lực khác như suy giảm khả năng tư duy trừu tượng, khả năng sáng tạo, lập kế hoạch hành động; mất khả năng phối hợp, điều hành các hành vi, thực hiện các hoạt động phức tạp trong cuộc sống thường nhật.

Vong ngôn với các triệu chứng nói lặp từ, nói định hình, nói gián tiếp, lời nói mơ hồ, khó khăn trong việc tìm từ, gọi tên đồ vật…; trường hợp nặng có thể mất khả năng nhận thức và đáp ứng bằng ngôn ngữ.

Vong tri với các triệu chứng như suy giảm hoặc mất khả năng nhận ra và gọi tên các đồ vật cũng như các đối tượng quen thuộc.

Vong hành với triệu chứng như không thể làm được các thao tác trong công việc hàng ngày, không vẽ lại được một hình vẽ theo yêu cầu; khó khăn trong việc mặc quần áo, đi giày, chải tóc, tắm rửa, vệ sinh cá nhân, tiểu tiện, đại tiện và một số kỹ năng sống thường ngày.

  • Giảm hoặc mất khả năng hoạt động nghề nghiệp và giao tiếp xã hội: Đây là hậu quả của triệu chứng suy giảm trí nhớ và suy giảm các khả năng hoạt động nhận thức khác kéo dài.
  • Các triệu chứng loạn thần với trạng thái hoang tưởng thường gặp, sau đó đến ảo giác: Những hoang tưởng này thường xảy ra không có hệ thống, chỉ lẻ tẻ và nhất thời. Trạng thái tri giác sai thực tại cũng thường hay gặp, nhất là ở những bệnh nhân mất trí Alzheimer.
  • Các rối loạn cảm xúc: thường gặp là chứng trầm cảm, có khoảng 25% ở các bệnh nhân bị mất trí. Ngoài ra còn có các rối loạn cảm xúc khác như dễ bị kích thích, cáu giận, có cơn kêu khóc qua đêm
  • Các rối loạn hành vi: Khi tình trạng bệnh trở nặng, bệnh nhân sẽ bị rối loạn chu kỳ giấc ngủ, đôi khi có các cơn co giật kiểu động kinh, dáng điệu đờ đẫn hoặc nằm một chỗ với tư thế của thai nhi.

Đối tượng nguy cơ bệnh Mất trí nhớ

Mất trí nhớ có thể xảy ra ở bất cứ đối tượng nào, từ nam đến nữ, từ già đến trẻ, tuy nhiên nó thường xảy ra ở người già và phụ nữ đặc biệt là phụ nữ sau sinh. Một số đối tượng nguy cơ mắc bệnh mất trí nhớ bao gồm:

  • Phổ biến nhất là những người trên 65 tuổi (bệnh lý mất trí nhớ người già), đôi khi nó vẫn có thể gặp ở những người trẻ hơn từ 30 đến 50 tuổi.
  • Người lạm dụng bia rượu, stress.
  • Bệnh nhân bị chấn thương não, tai biến mạch máu não,…
  • Phòng ngừa bệnh Mất trí nhớ
  • Chế độ ăn uống hợp lý, bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, các vitamin cần thiết cho cơ thể đặc biệt là vitamin B12, ăn nhiều rau xanh.
  • Tập thể dục mỗi ngày với các bài tập nhẹ nhàng, vừa sức như đi bộ, tập yoga,…
  • Ngủ đủ giấc, không nên thức quá khuya.
  • Cần cân bằng giữa chế độ làm việc và nghỉ ngơi, không nên làm việc quá sức, tránh tình trạng stress xảy ra.
  • Tránh sử dụng các đồ uống và các chất kích thích có hại đến sức khỏe như rượu bia, thuốc lá, ma túy,…

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Mất trí nhớ

Đánh giá dựa trên các biểu hiện lâm sàng đã nêu trong phần triệu chứng như suy giảm trí nhớ, Suy giảm các khả năng hoạt động nhận thức khác, rối loạn cảm xúc, hành vi,…

Đánh giá dựa vào các trắc nghiệm tâm lý.

Điện não đồ (EEG): Kỹ thuật này giúp ghi lại hoạt động điện của não thông qua các điện cực gắn vào da đầu, điện não đồ này thường thể hiện rõ ở những bệnh nhân mắc động kinh.

Chụp X-quang sọ não.

  • Chụp điện toán cắt lớp (CT): Giúp thấy được những bất thường trong cấu trúc não, bao gồm các mạch máu bị hẹp, bị kéo giãn quá mức hoặc bị vỡ và các đột quỵ xảy ra trong quá khứ.
  • Chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI) giúp phát hiện tình trạng teo não và các tổn thương khu trú ở não, phân biệt mất trí do Alzheimer hay do bệnh mạch máu não.
  • Chụp cắt lớp bằng cách phóng các hạt positron PET (positron emission tomography) giúp chẩn đoán phân biệt các tổn thương ở thùy đỉnh trong bệnh Alzheimer hoặc phát hiện các biến đổi của thùy trán trong các bệnh lý thoái hóa thùy trán.
  • Chụp ảnh chức năng não SPECT: Giúp phát hiện sự giảm lưu lượng máu não đến các thùy thái dương và thùy đỉnh trong bệnh Alzheimer và sự  giảm lưu lượng máu mang tính chất loang lổ rải rác hơn đối với bệnh nhân bị mất trí do các bệnh lý mạch máu não.

Các biện pháp điều trị bệnh Mất trí nhớ

Các phương pháp để điều trị mất trí nhớ bao gồm:

  • Cân nhắc sử dụng thuốc an thần kinh, chống trầm cảm, giải lo âu khi bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng loạn thần, rối loạn hành vi, tuy nhiên trong quá trình sử dụng các loại thuốc trên cần theo dõi khả năng dung nạp thuốc kém của người bệnh và những tác dụng phụ của thuốc.
  • Sử dụng một số thuốc có tác dụng duy trì trí nhớ và khả năng nhận thức như các loại thuốc dinh dưỡng thần kinh, tăng cường chuyển hóa, tuần hoàn não; đặc biệt là các thuốc tác dụng trên hệ thần kinh cholinergic trong điều trị bệnh Alzheimer như tacrine, donepezil, rivastigmine…
  • Áp dụng các phương pháp điều trị như vật lý trị liệu, trị liệu nghề nghiệp, các liệu pháp ngôn ngữ và cách nói chuyện nhằm giúp cải thiện các vấn đề về vận động, công việc hàng ngày và giao tiếp của bệnh nhân.
  • Cần có sự hỗ trợ, quan tâm, chăm sóc đặc biệt của người nhà đối với các bệnh nhân mất trí nhớ, theo dõi chặt chẽ để đảm bảo bệnh nhân không bị ngã, mất ý thức hoặc phản ứng tiêu cực với thuốc, luôn an ủi và dỗ dành người bệnh trong thời gian họ bị nhầm lẫn, hoang tưởng hoặc có ảo giác.
  • Trị liệu tâm lý cho bệnh nhân, khuyến khích bệnh nhân chơi các trò chơi như Sudoku, trò chơi ô chữ nhằm kích thích não.
  • Tập thể dục thường xuyên 30 phút mỗi ngày với các bài tập thư giãn, nhẹ nhàng và nên có một chế độ ăn uống lành mạnh.